Chào mừng quý vị đến với website của trường TH - THCS Bãi Thơm (Lập 19/7/2010)
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Từ Hà Tiên, nghĩ về tinh thần dung hợp văn hóa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:41' 03-10-2011
Dung lượng: 108.5 KB
Số lượt tải: 28
Nguồn:
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:41' 03-10-2011
Dung lượng: 108.5 KB
Số lượt tải: 28
Số lượt thích:
0 người
Từ Hà Tiên, nghĩ về tinh thần dung hợp văn hóa của dân tộc trên con đường xuôi Nam.
Trần Viết Ngạc
Xin đừng ai hào hứng gọi cuộc xuôi về Nam của dân tộc là "mang gươm đi mở nước!" Nói như thế chẳng những không đúng với lịch sử và không giải trình được những sự kiện in dấu trên con đường Xuôi Nam".
- Thuận Hoá "trở về với Đại Việt" (chữ của Lê Quý Đôn) như món quà sính lễ của chàng rể Chiêm Vương Chế Mân (1306).
- Công nữ Ngọc Vạn về làm hoàng hậu của Chey Chetta II mở đầu cho sở dinh điền cuả người Việt ở Mô Xoài (1620) và khi trở thành Hoàng thái hậu đã nhờ ảnh hưởng của bà mà Campuchia chấp nhận cho chúa Nguyễn được thiết lập sở thu thuế ở Sài Gòn (Prey Nokor).
- Nhờ sự giới thiệu của Chúa Hiền mà Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên đã vào khai phá vùng Mỹ Tho, Biên Hoà (1679).
- Sau cùng, như một tưởng thưởng cho quá trình bền bĩ xuôi Nam, Mạc Cửu đã đem giang sơn dày công gây dựng về cho chúa Nguyễn và được phong chức Tổng binh Hà Tiên (1708)
Những đóng góp của Huyền Trân, Ngọc Vạn, Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cữu ... phải chăng đáng xưng tụng hàng vạn lần hơn là các cuộc xung đột binh đao giữa các dân tộc láng giềng?
Gọi cuộc mở đất tiệm tiến về phương Nam là Xuôi Nam là phù hợp với tinh thần hòa hiếu và dung hợp văn hoá của nhân dân Đại Việt.
Trong một luận văn cao học viết về giao thoa văn hoá Chăm Việt (bảo vệ năm 1974 tại Đại học Văn khoa Sài Gòn), tác giả đã cho rằng trong ngôn ngữ Chăm không có vần V. Phải chăng trong lúc giao tiếp ChămViệt, những người lưu dân Xuôi Nam để làm vui lòng người láng giềng đã dần dần đánh mất vần V để phát âm đi dzề thay vì đi về, dzui dzẻ thay vì vui vẻ
Tiến sĩ Phú Văn Hẳn không đồng ý với ý kiến không có vần V trong ngôn ngữ Chăm. Tuy nhiên, qua khảo sát cuốn Từ điển Chăm Việt (nxb Khoa học xã hội, 1995) mà tiến sĩ Hẳn là một người tham gia biên soạn, tôi chỉ đếm được vỏn vẹn 71 từ vần V trong một cuốn từ điển dày hơn 900 trang. Các vần khác, như vần T có đến hơn 900 từ.
Trong khi đó, người Việt xuôi Nam lại tiếp nhận vần R (rung) vốn không thể phát âm chuẩn đối với cư dân đồng bằng sông Hồng.
Ô Châu cận lục cho thấy ảnh hưởng văn hoá Chăm khá rõ nét trong buổi đầu của đất Thuận Hoá.
" Nói tiếng Chiêm thì có thổ dân làng La Giang, mặc áo Chiêm thì có con gái làng Thuỷ Bạn".
Tiếng Huế (pha nhiều tiếng Chiêm) được cho là không tao nhã, mặc quần như người Chăm thay vì mặc váy cũng bị phê phán (có nơi tiếng Huế, quần Chiêm thói càng bỉ ổi !).
Tiếng Huế có nhiều tiếng Chăm như ni, tê, loi (thụi), mụ ...(muk để chỉ người phụ nữ lớn tuổi đáng trọng). Cuộc sống hoà đồng Chăm Việt ở vùng Thuận Hoá đã được ghi lại khá sống động như trong áng văn Thỉ thiên tự" do vị khai canh làng Câu Lãm (nay là Câu Nhi, Hải Lăng, Quảng Trị) là Bùi Trành viết năm 1429:
"Một ngày kia bèn đi Nam. Lần đi ấy, giả thác là đi buôn, kỳ thực là để chọn đất. Gia nhân đi theo không ai biết được. Rồi nhân truyền điønh loan báo : "Đất Châu Ô, người Chiêm đã bỏ đi hết, nhân dân ta, ai không có nhà cửa điền sản, mà mộ được nhiều người đến xứ này canh phá, lập thành làng mạc thì được khởi trưng." Tôi bèn nhanh chóng hưởng ứng, đi kêu gọi được hơn 20 người ứng mộ bèn thôi ...() "Lúc đó, bèn đi viếng mộ tổ tiên, xin bốc đem quy trí, hẹn thượng tuần tháng sau, Giáp Tý lên đường. Sau đó tới Châu Ô. Do ngày trước đã bàn bạc với dân Chiêm xứ ấy xin cư trú rồi, nên đến Châu Ô chẳng cần phải nhiều lời. Nhân đó, mua cày bừa, dựng nhà ở, ít lâu xong xuôi. Bèn dựng một cái rạp tại nơi ở, sắm sửa heo xôi, cỗ bàn, sắp đặt dâng tế một lễ mời khách đến dự, rồi an tán kim cốt ra tay canh khẩn. Từ đó yên việc ăn ở, người Chiêm lũ lượt tới lui, tôi đã chân thành khoản đãi. Gặp lúc họ có biến cố gì, tôi đều tới lui giúp đỡ. Những lúc đó người Chiêm phần nhiều đem thổ cẩm biếu cho tôi. Tôi chẳng tiêu dùng. Lâu ngày thành cả gánh, đem gánh lên quan trình nạp. Quan trên cho tôi làm "đại đề" [1].
Luôn luôn đi khai phá vùng đất mới
Trần Viết Ngạc
Xin đừng ai hào hứng gọi cuộc xuôi về Nam của dân tộc là "mang gươm đi mở nước!" Nói như thế chẳng những không đúng với lịch sử và không giải trình được những sự kiện in dấu trên con đường Xuôi Nam".
- Thuận Hoá "trở về với Đại Việt" (chữ của Lê Quý Đôn) như món quà sính lễ của chàng rể Chiêm Vương Chế Mân (1306).
- Công nữ Ngọc Vạn về làm hoàng hậu của Chey Chetta II mở đầu cho sở dinh điền cuả người Việt ở Mô Xoài (1620) và khi trở thành Hoàng thái hậu đã nhờ ảnh hưởng của bà mà Campuchia chấp nhận cho chúa Nguyễn được thiết lập sở thu thuế ở Sài Gòn (Prey Nokor).
- Nhờ sự giới thiệu của Chúa Hiền mà Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên đã vào khai phá vùng Mỹ Tho, Biên Hoà (1679).
- Sau cùng, như một tưởng thưởng cho quá trình bền bĩ xuôi Nam, Mạc Cửu đã đem giang sơn dày công gây dựng về cho chúa Nguyễn và được phong chức Tổng binh Hà Tiên (1708)
Những đóng góp của Huyền Trân, Ngọc Vạn, Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cữu ... phải chăng đáng xưng tụng hàng vạn lần hơn là các cuộc xung đột binh đao giữa các dân tộc láng giềng?
Gọi cuộc mở đất tiệm tiến về phương Nam là Xuôi Nam là phù hợp với tinh thần hòa hiếu và dung hợp văn hoá của nhân dân Đại Việt.
Trong một luận văn cao học viết về giao thoa văn hoá Chăm Việt (bảo vệ năm 1974 tại Đại học Văn khoa Sài Gòn), tác giả đã cho rằng trong ngôn ngữ Chăm không có vần V. Phải chăng trong lúc giao tiếp ChămViệt, những người lưu dân Xuôi Nam để làm vui lòng người láng giềng đã dần dần đánh mất vần V để phát âm đi dzề thay vì đi về, dzui dzẻ thay vì vui vẻ
Tiến sĩ Phú Văn Hẳn không đồng ý với ý kiến không có vần V trong ngôn ngữ Chăm. Tuy nhiên, qua khảo sát cuốn Từ điển Chăm Việt (nxb Khoa học xã hội, 1995) mà tiến sĩ Hẳn là một người tham gia biên soạn, tôi chỉ đếm được vỏn vẹn 71 từ vần V trong một cuốn từ điển dày hơn 900 trang. Các vần khác, như vần T có đến hơn 900 từ.
Trong khi đó, người Việt xuôi Nam lại tiếp nhận vần R (rung) vốn không thể phát âm chuẩn đối với cư dân đồng bằng sông Hồng.
Ô Châu cận lục cho thấy ảnh hưởng văn hoá Chăm khá rõ nét trong buổi đầu của đất Thuận Hoá.
" Nói tiếng Chiêm thì có thổ dân làng La Giang, mặc áo Chiêm thì có con gái làng Thuỷ Bạn".
Tiếng Huế (pha nhiều tiếng Chiêm) được cho là không tao nhã, mặc quần như người Chăm thay vì mặc váy cũng bị phê phán (có nơi tiếng Huế, quần Chiêm thói càng bỉ ổi !).
Tiếng Huế có nhiều tiếng Chăm như ni, tê, loi (thụi), mụ ...(muk để chỉ người phụ nữ lớn tuổi đáng trọng). Cuộc sống hoà đồng Chăm Việt ở vùng Thuận Hoá đã được ghi lại khá sống động như trong áng văn Thỉ thiên tự" do vị khai canh làng Câu Lãm (nay là Câu Nhi, Hải Lăng, Quảng Trị) là Bùi Trành viết năm 1429:
"Một ngày kia bèn đi Nam. Lần đi ấy, giả thác là đi buôn, kỳ thực là để chọn đất. Gia nhân đi theo không ai biết được. Rồi nhân truyền điønh loan báo : "Đất Châu Ô, người Chiêm đã bỏ đi hết, nhân dân ta, ai không có nhà cửa điền sản, mà mộ được nhiều người đến xứ này canh phá, lập thành làng mạc thì được khởi trưng." Tôi bèn nhanh chóng hưởng ứng, đi kêu gọi được hơn 20 người ứng mộ bèn thôi ...() "Lúc đó, bèn đi viếng mộ tổ tiên, xin bốc đem quy trí, hẹn thượng tuần tháng sau, Giáp Tý lên đường. Sau đó tới Châu Ô. Do ngày trước đã bàn bạc với dân Chiêm xứ ấy xin cư trú rồi, nên đến Châu Ô chẳng cần phải nhiều lời. Nhân đó, mua cày bừa, dựng nhà ở, ít lâu xong xuôi. Bèn dựng một cái rạp tại nơi ở, sắm sửa heo xôi, cỗ bàn, sắp đặt dâng tế một lễ mời khách đến dự, rồi an tán kim cốt ra tay canh khẩn. Từ đó yên việc ăn ở, người Chiêm lũ lượt tới lui, tôi đã chân thành khoản đãi. Gặp lúc họ có biến cố gì, tôi đều tới lui giúp đỡ. Những lúc đó người Chiêm phần nhiều đem thổ cẩm biếu cho tôi. Tôi chẳng tiêu dùng. Lâu ngày thành cả gánh, đem gánh lên quan trình nạp. Quan trên cho tôi làm "đại đề" [1].
Luôn luôn đi khai phá vùng đất mới
 






Các ý kiến mới nhất