Chào mừng quý vị đến với website của trường TH - THCS Bãi Thơm (Lập 19/7/2010)
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Mạc Cửu- Người khai phá đất Hà Tiên.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:39' 03-10-2011
Dung lượng: 18.5 KB
Số lượt tải: 56
Nguồn:
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:39' 03-10-2011
Dung lượng: 18.5 KB
Số lượt tải: 56
Số lượt thích:
0 người
Mạc Cửu- Người khai phá đất Hà Tiên
//
Mạc Cửu (1655 - 1735) là người đầu tiên có công khai hoang lập nên 7 xã thuộc vùng đất Hà Tiên, Kiên Giang (ngày nay). Ông vốn quê ở Lôi Châu, Quảng Đông, Trung Quốc.
Vào năm 1680, vì không chịu thuần phục nhà Thanh, ông đem cả gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, đoàn Mạc Cửu đổ bộ lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau khi dò hỏi, biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng của Chân Lạp, ông xin ở lại lập ấp rải rác từ vũng Thơm, Trùng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau, Hà Tiên. Dần dần ông xây dựng vùng này trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư đông đúc nằm sát biển... Tiếng lành đồn xa, lưu dân khắp nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây lập nghiệp. Vùng đất này dần dần trở thành một lãnh địa phồn thịnh với tên gọi mới Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral cũng đổi tên thành đảo Phú Quốc, có nghĩa là vùng đất giàu có.
Năm 1687, quân Xiêm đến cướp phá Hà Tiên, bắt ông cùng cả gia đình đưa về Xiêm. Hai năm sau, nhân lúc nước Xiêm có loạn, ông quay trở lại, bắt tay vào việc khôi phục Hà Tiên. Trước sự đe dọa của Xiêm và sự yếu kém của Chân Lạp, ông đi tìm chỗ nương tựa. Năm 1714, ông dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn, nhận nơi đây là quê hương thứ hai của mình và nguyện hết lòng phục vụ. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong ông làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Từ đấy nhân dân tụ tập về đây ngày càng đông đúc, trở thành vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan. Năm 1735 ông mất, thọ 80 tuổi, được triều đình phong tặng Khai trấn thượng trụ quốc đại tướng quân Võ Nghị công. Sau này nhà thơ Đông Hồ có bài thơ vịnh Mạc Cửu, trong đó có đoạn:
“Chẳng đội trời Thanh Mãn,
Tìm qua đất Việt bang.
Triều đình riêng một góc,
Trung hiếu vẹn đôi đường.
Trúc thành xây vũ lược,
Anh các dựng văn chương”.
Vũ Hoàng
Tao đàn Chiêu Anh Các, gọi tắt là Chiêu Anh Các, do Trần Trí Khải tự Hoài Thủy, một danh sĩ người Việt Đông (Trung Quốc) sáng lập, và Mạc Thiên Tứ (1718 -1780) làm Tao đàn nguyên soái, ra đời vào năm 1736 ở Hà Tiên, nay thuộc tỉnh Kiên Giang, Việt Nam. Đây không chỉ là một tổ chức gần giống như hội Tao đàn Nhị thập bát Tú của vua Lê Thánh Tông (1442-1497), mà còn là nơi thờ Khổng Tử, nơi chiêu tập các bậc hiền tài và giúp đỡ (nhà Nghĩa học) cho những thiếu niên ưu tú theo đuổi nghiệp văn, nghiệp võ. Từ thời Đô đốc Mạc Cửu, sách ``Đại Nam liệt truyện Tiền biên`` đã ghi nhận: “(Mạc) Cửu về Trấn (Hà Tiên) dựng thành quách, đặt liêu tá, làm nhiều nhà khách để đón tiếp hiền tài”, Kế thừa giềng mối của cha, Mạc Thiên Tứ cũng dựng gác Chiêu Anh để thờ Tiên thánh và làm nơi đón tiếp hiền tài. Sách “Hà Tiên trấn, Hiệp trấn Mạc thị gia phả” (gọi tắt là Mạc thị gia phả) do Vũ Thế Dinh (1) biên soạn năm 1818, chép: “Ông (Mạc Thiên Tứ) phú tánh trung lương, nhân từ nghĩa dõng, toàn vẹn tài đức, lại tinh thông sách vở và văn thơ của Bách gia chư tử… Ông có dựng Chiêu Anh Các để thờ Tiên Thánh, và dùng lễ vật hậu hĩ để đón mời người tài giỏi. Từ bên nhà Thanh, cả các bậc tuấn tú các nước khác nghe tiếng ông đều tụ hội đến ngày một đông.” Trong số danh sĩ "nghe tiếng mà đến", Mạc Thiên Tứ kể, “có thầy Trần Hoài Thủy từ Việt Đông vượt biển đến đây. Ta đãi làm thượng tân. Mỗi khi hoa sớm trăng đêm, ngâm vịnh chẳng thôi. Nhân, đem "Hà Tiên thập cảnh" trình cho tri kỷ. Thầy Trần dựng cơ Tao đàn, mở hội phong nhã...`” (2). Đó là năm Bính Thìn (1736).
http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=1598
 






Các ý kiến mới nhất