Chào mừng quý vị đến với website của trường TH - THCS Bãi Thơm (Lập 19/7/2010)
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Đôi thi sĩ đất Hà Tiên vàThăng Long - Hà Nội

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 17h:04' 21-08-2011
Dung lượng: 44.1 KB
Số lượt tải: 15
Nguồn:
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 17h:04' 21-08-2011
Dung lượng: 44.1 KB
Số lượt tải: 15
Số lượt thích:
0 người
Đôi thi sĩ đất Hà Tiên và Thăng Long – Hà Nội
/
Trong các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX, có lẽ Đông Hồ và Mộng Tuyết, đôi thi sĩ đất Hà Tiên, là hai người có nhiều tình cảm, gắn bó nhất đối với miền Bắc, với Thăng Long – Hà Nội.
Có phải vì quê hương ở mảnh đất cực Tây của đất nước, giáp với biên giới xứ người, nên ý thức về tổ quốc luôn thường trực trong tâm hồn họ? Nhìn cảnh sắc Hà Tiên, Đông Hồ như nhìn thấy một đất nước thu nhỏ: “Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi vôi của Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hoá. Có một ít Đồ Sơn Cửa Tùng, một ít Nha Trang Long Hải” (1).
Tên tuổi Đông Hồ từ đầu đã gắn liền với tờ báo nổi tiếng Nam Phong tạp chí của xứ Bắc. Theo tâm sự của Đông Hồ, chính Nam Phong đã đánh thức nơi ông niềm say mê với quốc văn, quốc ngữ:
“Nằm nhà buồn buồn, tôi lấy mấy quyển sách ra xem thì là mấy tập Nam Phong cũ. Tôi giở từng số, xem qua một lượt. Tôi gặp bài thơ Le Lac của Lamartine dịch ra quốc ngữ của cô Lê Cẩm Nhung và của ông Nguyễn Văn Bông. Tôi để ý đọc, chỉ đọc bài quốc ngữ thôi, vì bài chữ Tây thì tôi đã thuộc lòng (…) Thì ra quốc văn có thể diễn nổi những cảnh sắc sảo sáng sủa của thơ Tây, và cũng có thể diễn nổi những ý tứ thâm trầm, những tư tưởng cao thượng của thơ Tàu. Tôi tỉnh ngộ. Tôi thấy rằng nước ta còn có chữ, giống ta còn có tiếng nói. Quốc văn ta có nghèo hèn kém cỏi gì đâu. Tôi bỏ Pháp văn, quay ra chuyên tâm học quốc ngữ. Cái duyên của tôi với báo Nam Phong cũng bắt đầu từ đó, mà cái cảm tình của tôi đối với tiếng nước nhà đằm thắm mặn mà cũng bắt đầu từ đó”(2).
Đông Hồ còn có hẳn một căn gác nhỏ để viết lách, lưu trữ sách vở của Nam Phong tạp chí với cái tên “Nam Phong các”. Từ năm 1923, ông bắt đầu nổi tiếng với nhiều bài khảo cứu, tùy bút, ký sự đăng trên báo Nam Phong như Thăm đảo Phú Quốc, Linh Phượng ký, Phú Đông Hồ, Hà Tiên Mạc thị sử ... Chính vì thế mà ông được các nhà văn học sử xếp vào văn phái nhóm Nam Phong. Trúc Hà, một trong “Hà Tiên tứ tuyệt” (gồm Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà), cháu gọi ông bằng cậu, cũng chọn Nam Phong làm nơi để khởi nghiệp văn chương.
Vốn có khát vọng vun đắp, xây dựng tương lai cho “tiếng Việt huy hoàng”, nên vào năm 1926, tức lúc mới tròn hai mươi tuổi, chàng trai trẻ Trác Chi đã mở Trí Đức học xá bên bờ Đông Hồ dạy toàn chữ quốc ngữ. Thành lập Trí Đức học xá, Đông Hồ muốn thực hiện lời của Tagore khi mở nhà Santiniketan để dạy cho thanh niên Ấn Độ cái đạo giải phóng tinh thần, sống gần thiên nhiên: “Có học tiếng mẹ đẻ, thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được”. Giữa lúc tiếng Việt đang bị rẻ rúng, coi khinh như lúc đó, hành động của ông giáo trẻ Lâm Tấn Phác quả là rất dũng cảm. Nhiều bài làm văn của học trò Trí Đức học xá đã được Đông Hồ biên tập và gửi đăng trên báo Nam Phong, trong đó có bài của người học trò xuất sắc nhất là nữ sĩ Mộng Tuyết, sau này trở thành người bạn đời của ông.
Ngoài Nam Phong, Đông Hồ còn viết bài cho các tạp chí ở Bắc như Văn Học tạp chí, Khai trí Tiến đức tập san, Tri Tân. Mộng Tuyết ngoài Nam Phong cũng viết nhiều bài cho Tri Tân. Bà cũng có rất có duyên với các giải văn chương ở đất Bắc. Truyện ngắn Tình trong sạch của bà đã được giải nhất của Nam Ký thư quán Hà Nội. Năm 1939 tập thơ Phấn hưong rừng của bà lại được tặng Giải thuởng văn chương danh giá của Tự Lực văn đoàn.
Vào năm 1935, các nhà văn của Hà Tiên (gồm Đông Hồ, Trúc Hà, Trúc Phong, Lư Khê, Trọng Toàn, Quang Đẩu, Bạch Như, Mộng Tuyết) đã thành lập báo Sống ở Sài Gòn, một tờ báo chuyên về văn chương. Đây là tờ báo viết đúng chính tả hỏi ngã đầu tiên của Nam Bộ. Các nhà văn đất Bắc như Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật, Vân Đài… cũng đóng góp rất nhiều bài viết cho báo. Những người làm báo Sống chủ trương
/
Trong các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX, có lẽ Đông Hồ và Mộng Tuyết, đôi thi sĩ đất Hà Tiên, là hai người có nhiều tình cảm, gắn bó nhất đối với miền Bắc, với Thăng Long – Hà Nội.
Có phải vì quê hương ở mảnh đất cực Tây của đất nước, giáp với biên giới xứ người, nên ý thức về tổ quốc luôn thường trực trong tâm hồn họ? Nhìn cảnh sắc Hà Tiên, Đông Hồ như nhìn thấy một đất nước thu nhỏ: “Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi vôi của Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hoá. Có một ít Đồ Sơn Cửa Tùng, một ít Nha Trang Long Hải” (1).
Tên tuổi Đông Hồ từ đầu đã gắn liền với tờ báo nổi tiếng Nam Phong tạp chí của xứ Bắc. Theo tâm sự của Đông Hồ, chính Nam Phong đã đánh thức nơi ông niềm say mê với quốc văn, quốc ngữ:
“Nằm nhà buồn buồn, tôi lấy mấy quyển sách ra xem thì là mấy tập Nam Phong cũ. Tôi giở từng số, xem qua một lượt. Tôi gặp bài thơ Le Lac của Lamartine dịch ra quốc ngữ của cô Lê Cẩm Nhung và của ông Nguyễn Văn Bông. Tôi để ý đọc, chỉ đọc bài quốc ngữ thôi, vì bài chữ Tây thì tôi đã thuộc lòng (…) Thì ra quốc văn có thể diễn nổi những cảnh sắc sảo sáng sủa của thơ Tây, và cũng có thể diễn nổi những ý tứ thâm trầm, những tư tưởng cao thượng của thơ Tàu. Tôi tỉnh ngộ. Tôi thấy rằng nước ta còn có chữ, giống ta còn có tiếng nói. Quốc văn ta có nghèo hèn kém cỏi gì đâu. Tôi bỏ Pháp văn, quay ra chuyên tâm học quốc ngữ. Cái duyên của tôi với báo Nam Phong cũng bắt đầu từ đó, mà cái cảm tình của tôi đối với tiếng nước nhà đằm thắm mặn mà cũng bắt đầu từ đó”(2).
Đông Hồ còn có hẳn một căn gác nhỏ để viết lách, lưu trữ sách vở của Nam Phong tạp chí với cái tên “Nam Phong các”. Từ năm 1923, ông bắt đầu nổi tiếng với nhiều bài khảo cứu, tùy bút, ký sự đăng trên báo Nam Phong như Thăm đảo Phú Quốc, Linh Phượng ký, Phú Đông Hồ, Hà Tiên Mạc thị sử ... Chính vì thế mà ông được các nhà văn học sử xếp vào văn phái nhóm Nam Phong. Trúc Hà, một trong “Hà Tiên tứ tuyệt” (gồm Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà), cháu gọi ông bằng cậu, cũng chọn Nam Phong làm nơi để khởi nghiệp văn chương.
Vốn có khát vọng vun đắp, xây dựng tương lai cho “tiếng Việt huy hoàng”, nên vào năm 1926, tức lúc mới tròn hai mươi tuổi, chàng trai trẻ Trác Chi đã mở Trí Đức học xá bên bờ Đông Hồ dạy toàn chữ quốc ngữ. Thành lập Trí Đức học xá, Đông Hồ muốn thực hiện lời của Tagore khi mở nhà Santiniketan để dạy cho thanh niên Ấn Độ cái đạo giải phóng tinh thần, sống gần thiên nhiên: “Có học tiếng mẹ đẻ, thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được”. Giữa lúc tiếng Việt đang bị rẻ rúng, coi khinh như lúc đó, hành động của ông giáo trẻ Lâm Tấn Phác quả là rất dũng cảm. Nhiều bài làm văn của học trò Trí Đức học xá đã được Đông Hồ biên tập và gửi đăng trên báo Nam Phong, trong đó có bài của người học trò xuất sắc nhất là nữ sĩ Mộng Tuyết, sau này trở thành người bạn đời của ông.
Ngoài Nam Phong, Đông Hồ còn viết bài cho các tạp chí ở Bắc như Văn Học tạp chí, Khai trí Tiến đức tập san, Tri Tân. Mộng Tuyết ngoài Nam Phong cũng viết nhiều bài cho Tri Tân. Bà cũng có rất có duyên với các giải văn chương ở đất Bắc. Truyện ngắn Tình trong sạch của bà đã được giải nhất của Nam Ký thư quán Hà Nội. Năm 1939 tập thơ Phấn hưong rừng của bà lại được tặng Giải thuởng văn chương danh giá của Tự Lực văn đoàn.
Vào năm 1935, các nhà văn của Hà Tiên (gồm Đông Hồ, Trúc Hà, Trúc Phong, Lư Khê, Trọng Toàn, Quang Đẩu, Bạch Như, Mộng Tuyết) đã thành lập báo Sống ở Sài Gòn, một tờ báo chuyên về văn chương. Đây là tờ báo viết đúng chính tả hỏi ngã đầu tiên của Nam Bộ. Các nhà văn đất Bắc như Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật, Vân Đài… cũng đóng góp rất nhiều bài viết cho báo. Những người làm báo Sống chủ trương
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất